Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tiếng anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học tiếng anh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Học ngoại ngữ – cách tốt nhất để rèn trí thông minh

Học ngoại ngữ – cách tốt nhất để rèn trí thông minh Đối với nhiều người, việc học một ngoại ngữ vô cùng khó khăn, nhưng với một số, đó lại là việc khá dễ dàng. Theo thống kê của Viện ngôn ngữ học quốc gia London (Anh), trên thế giới hiện có khoảng vài triệu người có khả năng học mau lẹ từ 7 ngoại ngữ trở lên. Tăng trí thông minh Giáo sư Elleen Bialystok thuộc Đại học York (Canada) cho rằng, học ngoại ngữ là một trong những cách tốt nhất rèn luyện “cơ bắp” cho trí thông minh, khiến nó cứng cáp thêm và không bị xuống dốc. Trong số ra tháng 6 năm nay, tạp chí khoa học Psychology and aging đã đăng tải quan niệm này của Ellen và nhanh chóng gây được sự chú ý của nhiều đồng nghiệp. Dựa vào một thí nghiệm mang tên hiệu ứng Simon, Ellen đã chứng tỏ những ai càng học nhiều ngoại ngữ, sức đề kháng của cơ thể càng cao, khả năng ứng xử trong cuộc sống càng nhanh nhạy. Ellen cho hai nhóm người (có cùng chỉ số thông minh và trình độ học vấn) cùng tham gia thí nghiệm và nhận thấy những người biết ngoại ngữ bao giờ cũng có khả năng tiếp thu, phân tích, so sánh và xử lý tình huống tốt hơn hẳn. Tạp chí The Economist của Anh cũng cho rằng việc tuyển chọn những nhân viên có năng khiếu học ngoại ngữ luôn là tiêu chí hàng đầu của những công ty lớn hiện nay. Việc này không chỉ có nguyên do truyền thống (ngoại ngữ là công cụ giao tiếp trong kinh doanh) mà còn thể hiện sự khát khao tuyển chọn những nhân viên có khả năng chịu đựng thử thách giỏi và ứng phó cao. Theo nhà kinh tế học Nauy Martin Olsen, những công ty có tỷ lệ cao nhân viên biết từ 3 ngoại ngữ trở lên là rất hiếm, nhưng những công ty đó luôn tìm ra lối thoát tối ưu trong những tình huống hiểm nghèo. Trong khi đó, những công ty có tỷ lệ nhân viên “song ngữ” thấp rất khó khăn để vượt qua chướng ngại vật. Olsen cũng chứng minh rằng ở Mỹ và Đức, những người làm công tác quản lý giỏi ngoại ngữ luôn biết cách xoay chuyển tình thế rất nhanh và biết tìm giải pháp tối ưu trong những tình huống mà người khác phải vất vả mới thoát ra được. Các công ty lớn như Microsoft hay Sony đều xem ngoại ngữ là tiêu chuẩn quan trọng khi cần tuyển dụng hay cất nhắc những vị trí quản lý. Trên tạp chí Pour la science số ra tháng 7/2004, hai giáo sư Van Damme và Frédéric Gaulle đều cho rằng ngoại ngữ là một trong những cách tốt nhất để tăng cường trí nhớ và rèn luyện óc thông minh. Phân tích về khía cạnh ngôn ngữ học cho ra kết luận rằng khả năng tư duy ngôn ngữ là phương thức thăng tiến rất lợi hại của những người có địa vị trong xã hội. Tiếng Anh và tiếng Pháp có khá nhiều điểm tương đồng về văn phạm và từ vựng, nên khi học chúng, người ta có thể tự phân tích và so sánh những điểm này, từ đó tạo cho mình một khả năng bất ngờ về phân tích và tổng hợp. Riêng với tạp chí Capital (Pháp), những cán bộ quản lý thành công nhanh chóng là nhờ trong quá khứ, họ từng vật lộn với một ngoại ngữ nào đó. Đa số nhân viên kinh doanh châu Âu hiện nay đều thông thạo tiếng Anh và vô tình rèn luyện khả năng “chiến đấu” sau này. Bán cầu não trái (chịu trách nhiệm tư duy ngôn ngữ) nếu được luyện tập từ nhỏ sẽ tạo ra một sức bật tiềm tàng và có khả năng bùng phát về sau. Tăng khả năng quản lý và tuổi thọ Tờ China Daily của Trung Quốc cho rằng những doanh nhân châu Á học ngoại ngữ sẽ có những thế mạnh không ngờ khi đương đầu với những khó khăn trong quản lý. Báo này từng nêu vấn đề học ngoại ngữ và khả năng tăng tuổi thọ của con người, vì một khi não – cơ quan chỉ huy – rèn luyện thì cơ thể sẽ được tăng cường sức mạnh rất đáng kể. Tuy nhiên thuyết này, tiếc thay, lại bị nhiều nhà khoa học phương Tây xem nhẹ vì cho rằng “người Trung Quốc hay tự ca ngợi mình” cho việc kéo dài tuổi thọ là sự thật. Nhiều nhà thần kinh học của Áo, Pháp hay Mỹ từng chấp nhận rằng một khi làm việc liên tục, não sẽ làm cơ thể khỏe mạnh hơn hẳn so với những người ít chịu suy nghĩ. Trước đây, giới khoa học phương Tây từng lâm vào cuộc chiến khốc liệt giữa hai phe, một bên chủ trương chỉ học toán thì con người mới giỏi và sống lâu, bên kia cho rằng học ngoại ngữ mới là tốt. Nhưng tựu trung, cả hai đều đi về một chân lý: phải rèn não thì con người mới sống lâu. Một số nhà khoa học phương Tây hiện nay cho rằng những doanh nhân hay cán bộ quản lý châu Á (đặc biệt ở những nước dùng chữ tượng hình như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) có học tiếng Anh (hệ Latin) sẽ tăng cường trí nhớ rất nhanh và có khả năng xoay xở cao. Họ thường tỏ ra năng động và có thể hoạt động độc lập dưới sức ép rất cao, trong khi nhiều doanh nhân hay cán bộ quản lý tóc vàng mắt xanh lại tỏ ra chậm chạp và ù lì. Còn theo nghiên cứu của giáo sư David Kelly thuộc Đại học Utah, những doanh nhân châu Á giỏi tiếng Anh (nếu biết thêm một ngoại ngữ nữa thì càng tốt) luôn là những người có nhiều sáng kiến độc đáo ngay trong những môi trường đầy thử thách. Một thực tế lạ lùng nữa: những doanh nhân hay cán bộ quản lý phương Tây có học thêm tiếng Trung Quốc (trực tiếp bằng ngôn ngữ hay gián tiếp bằng võ thuật, thiền) hơn hẳn những đồng nghiệp không học ngoại ngữ. Như vậy sự thật đã rõ ràng: khi học thêm một ngôn ngữ khó và khác hẳn tiếng mẹ đẻ, người ta có thể tăng hẳn chỉ số thông minh và khả năng thích ứng hoàn cảnh. Các nhà sư phạm ở Hà Lan và Thụy Sĩ cùng từng nghiên cứu hơn 4.000 đứa trẻ từ 7 đến 12 tuổi được chia thành hai nhóm. Kết quả chứng tỏ nhóm có ngoại ngữ ít bị sốc khi chuyển trường hay chuyển lớp, trong khi những em không học ngoại ngữ dễ bị trầm cảm khi phải thay đổi môi trường sống và làm việc. Nghiên cứu những thần đồng ngoại ngữ ở hơn 30 quốc gia, người ta cũng thấy chúng có khả năng thích nghi nhanh chóng, dễ hòa đồng hơn và làm việc tốt hơn. Riêng nhóm nghiên cứu ASBI thuộc Đại học Arizona (Mỹ) lại chuyên tìm hiểu quá khứ làm quen với ngoại ngữ của những người thành đạt và nhận thấy rằng số người có cách ứng xử thông minh và sáng tạo đang tăng nhanh ở châu Á và nhất là ở những nước đang phát triển, do nhu cầu học tiếng Anh tăng mạnh. Trong khi đó, tại Anh và Mỹ (hoặc những quốc gia mà tiếng Anh thống trị), tỷ lệ này giảm dần! Tại Australia cũng vậy, dù số lượng nhân tài vẫn đầy rẫy, nhưng dường như đó là thiên phú chứ không phải được tăng cường hay rèn luyện do học ngoại ngữ. Chưa có công trình nào nghiên cứu mối liên hệ giữa lịch sử học ngoại ngữ và khả năng lèo lái đất nước của các nguyên thủ quốc gia nhưng hình như lịch sử chứng minh rằng những ai đã lãnh đạo cả một quốc gia mà lại giỏi ngoại ngữ thì thường có khả năng ứng biến rất tốt. Khoảng giữa thập niên 1990, thần kinh học từng biết đến thuyết “dây thép gai trong não” của nữ giáo sư Kyla Cole, người Ba Lan. Theo bà Kyla, não người có một hàng thép gai vô hình, chia hai bán cầu não bằng đường biên bất khả xâm phạm. Cụ thể, những ai giỏi ngoại ngữ thì ít khi giỏi toán (hoặc những môn khoa học tự nhiên) và ngược lại. Theo Kyla, những trường hợp giỏi cả văn lẫn toán thật ra chỉ là “giỏi giả”, nghĩa là chỉ xuất hiện ở độ tuổi nào đó thôi, sau đó tự tàn lụi. Cũng theo Kyla, những ai có năng khiếu tột bậc về ngoại ngữ thường có trí nhớ tốt hơn. Nhưng giả thuyết mà Kyla đưa ra không trụ được lâu, vì thiếu chứng cứ rõ ràng. Trong lúc đó, chuyện tuổi thọ con người tăng lên nhờ học ngoại ngữ đang được chú ý hơn. Nhật Bản cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nhưng giáo sư Ishiro Tamaguchi cũng thừa nhận rằng qua hơn 200 doanh nhân mà ông tìm hiểu trong 4 năm liền thì chỉ những ai từng học ngoại ngữ mới có khả năng sáng tạo nhanh và chính xác. Viện Thần kinh học trung ương Paris cũng xác nhận rằng chỉ có học ngoại ngữ giỏi thì con người mới có một bộ não cứng cáp và nhanh nhạy. Theo vnexpress

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Học tiếng anh theo phương pháp của tiến sĩ Pimsleur

Học theo tốc độ của bạn
Bạn đang có trong tay chương trình học ngoại ngữ được biên soạn có hiệu quả nhất từ trước đến nay. Chắc bạn cũng biết, học một thứ tiếng mới có thể gây cho bạn những thất vọng. Có lẽ bạn đã đến với ngoại ngữ lần đầu tiên ở trường trung học. Nếu bạn thấy các lớp ngoại ngữ ấy quá khó, hay điểm ngoại ngữ của bạn thấp, chắc bạn cho rằng bạn không có khả năng học ngoại ngữ. Ngay cả khi bạn học khá một ngoại ngữ, bạn cũng có thể ngạc nhiên nếu sau đó phát hiện ra rằng những gì bạn đã học được có rất ít tác dụng hay không có một tác dụng nào khi bạn định tiếp xúc với người bản ngữ. Chắc bạn chờ đến khi bạn đã trưởng thành và thử đi học các lớp dành cho người lớn, học các trường ngoại ngữ hay theo học các chương trình dạy ngoại ngữ tại nhà. Cả trong trường hợp này, bạn cũng có thể cảm thấy khó duy trì được thông tin, các bài học tẻ nhạt và chậm tiến bộ. Nhiều người học ngoại ngữ sớm từ bỏ các chương trình ấy vì cho rằng họ thiếu mất khả năng nghe bẩm sinh để hiểu và vận dụng những gì họ đọc được và nghe thấy. Thực ra, ai cũng có thể học một ngoại ngữ – nếu có một hệ thống phương pháp giảng dạy đúng đắn. Với phương pháp Pimsleur, bạn sẽ tận dụng kết quả thu được qua nhiều năm nghiên cứu và biên soạn để tạo ra được phương pháp giảng dạy ngoại ngữ có hiệu quả nhất trên thế giới. Các chương trình Ngoại ngữ Pimsleur do Tiến sĩ Paul Pimsleur biên soạn đáp ứng được nhu cầu cấp bách đối với tài liệu tự học ngoại ngữ.

Tham khảo tại trang cachhoctienganh

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

3 tháng thanh toán 1 ngoại ngữ



Một phương pháp học giúp bạn rút ngắn được thời gian.

Ngày nay trên khắp thế giới, hơn 8 triệu người vẫn tiếp tục dùng phương pháp “hiệu quả nhất” để học một hoặc vài ngoại ngữ. Cách học gì mà hiệu quả như vậy...

Khi bạn học một thứ tiếng nào đó bạn có thể chọn một trong hai cách: hoặc là bạn học ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm…liên miên hết tháng này sang tháng khác, hoặc là bạn quay lại cách mà bạn học nói tiếng mẹ đẻ khi còn nhỏ.

Bạn có thể không nhớ, nhưng lúc bé bạn đả bắt đầu nói những âm đầu tiên, những từ đơn giản: bố, mẹ…rồi bạn bắt đầu nói những cụm từ mà có khi bạn chẳng hiểu gì cả. Rồi rất nhanh chóng, bạn đã nói bà hiểu được, rồi làm người khác hiểu được ý mình. Đây chính là cách học tốt nhất để học bất cứ ngoại ngữ nào.

Tại sao chỉ cần có ba tháng...

Là một đứa trẻ, bạn sẽ học nói do “vô tình” thôi. Cậu bé bắt chước bố mẹ mình mà không hề biết tại sao lại làm được như vậy. Với bạn, học ngoại ngữ lại khác. Bạn học có mục đích hẳn hoi. Vì thế, chỉ cần 3 tháng (mỗi ngày dành độ nửa tiếng) là đủ để bạn có thể nói dễ dàng bất cứ ngoại ngữ nào.

Học như thế nào...

Bạn mua một cuốn băng cassette (có kèm sách) cho trình độ ban đầu của ngoại ngữ bạn chọn. Các băng này đều do các chuyên gia ngôn ngữ dọan cả. Bạn bắt đầu nghe đi nghe lại băng này. Chính nhờ sự lặp lại này trên cassette, từ vựng và cách phát âm sẽ chặt vào bộ nhớ của bạn mà khỏi cần lo lắng lắm về “năng khiếu”, hay IQ của mình. Khi bạn nói ngoại ngữ mới này, các câu nói sẽ tự đến với bạn một cách tự nhiên như tiếng mẹ đẻ vậy. Có ba giai đoạn như sau:

1. Nghe: Trước tiên, bạn phải tập cho tai mình quen với những âm thanh của thứ tiếng mới. Nghe nhưng đừng có hiểu gì cả. Bằng cách đơn giản này, bạn sẽ dần nắm được những âm, ngữ điệu và các phản xạ ngôn ngữ - một yếu tố rất quan trọng khi học ngoại ngữ.

2. Đọc: hãy tìm đọc những cuốn sách ngoại ngữ đơn giản, có tranh ảnh minh họa. Vừa đọc text và các bài đàm thoại vừa tra từ mới. Ngữ pháp, động từ, cách diễn đạt, cùng các cấu trúc đặc biệt đều có trong bài đàm thoại cả. bạn sẽ ngấm chúng một cách tự nhiên mà khỏi cần nhọc công.

3. Nói: bạn nghe và lặp lại theo băng những âm, từ, cụm từ, rồi dần dà bạn sẽ diễn đạt hoàn chỉnh. Khi đã được rồi, bạn sẽ cảm thấy thiếu thốn từ vựng. Nhưng theo phương pháp trên bạn sẽ tăng vốn từ nhanh thôi. Tồi bạn sẽ nói được những câu dài hơn và hoàn chỉnh hơn. Hãy đi từ dễ đến khó, chỉ sau 3 tháng bạn sẽ thấy mình nói được ngoại ngữ mới một cách ngon lành.

Chúc bạn thành công.
Lê Trọng Hiếu biên dịch

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Tác dụng của Nhạc Baroque (nhạc cổ điển)

Tác dụng của Nhạc Baroque

Tiến sĩ Georgi Lozanov, nhà tâm lý học nổi tiếng người Bulgaria, từng thực hiện một nghiên cứu trong đó ông cho những tình nguyện viên vừa học ngoại ngữ vừa nghe thể loại nhạc Baroque (nhạc Baroque là thể loại nhạc cổ điển thịnh hành vào thế kỷ 17-18 với các nhạc sĩ lỗi lạc như Bach, Vivaldi, …) với nhịp điệu 60 nhịp một phút. Sau một ngày học ngoại ngữ, những học sinh này sẽ trải qua một bài kiểm tra. Kết quả cho thấy cho thấy chỉ trong một ngày các đối tượng nghiên cứu có thể học số lượng từ đến 1000 từ mà bình thường phải mất một học kỳ mới học được. Hơn thế nữa, những học sinh trên có thể nhớ đến 92% những gì đã được học. Chỉ bằng việc lắng nghe nhạc Baroque khi đang học, thời lượng cần thiết để thông thạo một ngoại ngữ được giảm từ 2 năm xuống 30 ngày. Và những sinh viên tham gia nghiên cứu trên có khả năng nhớ những từ mình đã học thậm chí sau 4 năm mà không cần ôn tập. 

Những tập đoàn khổng lồ như IBM và Shell, cùng với một loạt các trường trung học và đại học nổi tiếng, đã và đang sử dụng âm nhạc để giảm thời lượng học và tăng cường khả năng truy xuất thông tin. 
Việc nghe nhạc còn làm tăng khả năng và năng suất làm việc một cách đáng kể. Nghiên cứu cũng cho thấy nghe nhạc Mozart và những bản nhạc Baroque giúp sinh viên cảm thấy bình tĩnh, tập trung hơn, và tăng cường khả năng trí tuệ. 

Nhạc Baroque có những tác dụng cụ thể nào về mặt sinh lý học? Khi chúng ta lắng nghe theo nhịp điệu đều đặn của thể loại nhạc này, 60 nhịp một phút, nhịp tim, huyết áp và sóng não đều thư giãn theo điệu nhạc. Nhịp tim chậm lại, huyết áp giảm đi, sóng não beta giảm 6% trong khi sóng não alpha (thích hợp cho học tập và trí nhớ) tăng 6%. Âm nhạc giúp bạn đi vào trạng thái thư giãn nhưng tỉnh táo (relaxed alertness) – trạng thái tối ưu cho học tập và làm việc. 

Sau đây là những liệt kê những bản nhạc có tác dụng hỗ trợ, kích thích việc học tập, nghiên cứu và làm việc. Bạn hãy khởi đầu buổi học bằng việc (1) thư giãn cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, (2) lắng nghe những bản nhạc này với âm lượng vừa phải, phù hợp với chính bạn. 

Nghe những thể loại nhạc thích hợp sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích khác nhau. Sau đây là một số tác dụng tích cực mà âm nhạc đem đến và đã được nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh: 

- tăng trí nhớ 
- tăng sự tập trung 
- giúp bạn sáng tạo hơn 
- giảm stress 
- tăng chỉ số thông minh IQ 
- giúp cơ thể mau hồi phục 
- giúp học sinh giỏi ghi điểm cao hơn trong các kỳ thi 
- kích thích cả hai bán cầu não (não trái và não phải) khi học tập 

List 1 vài tác giả Baroque và tác phẩm : 

1. J.S. BACH 
- Suite 3 (Air on a G String) 
- Concerto for Oboe in D Minor op-9 
- Concerto in D Minor for 2 violins 
- Fantasy in G Major, Fantasy in C Minor and Trio in D Minor, Canonic Variations and Toccata 
- Prelude in G Major 

2. VIVALDI 

- Four Seasons, Spring, Largo 
- Concerto in C Major for Piccolo 
- Flute Concerto no. 3 in D Major 
- Five Concertos for Flute and Chamber Oschestra 

3. PACHELBEL 

- Canon in D Major 
- Canon from Canon and Gigue 

4. MOZART 

- Concerto no. 21 in C Major, K.467 
- Clarinet Concerto in A Major 
- Concerto for Violin and Orchestra 
- Concerto no. 7 in D Major 
- Symphony in D Major (Haffner) 
- Symphony in D Major (Prague) 
- Concerto for Violin and Orchestra in A Major no.5 
- Symphony in A Major no. 29 
- Symphony in G Minor no. 40 

5. BEETHOVEN 

- Piano Concerto no. 5 in E-flat 
- Symphony no. 6 (Pastorale) 
- Concerto for Violin and Orchestra in D Major, op. 61 
- Concerto no. 5 in E-flat Major for Piano and Oschestra, op. 73 (Emperor) 
- Concerto no. 5 in E-flat Major for Piano and Orchestra no.5 in B-flat Major 

6. SCHUBERT 
- Octet in F Major, D. 803 

7. TCHAIKOVSKY 
- Concerto no. 1 in B-flat Minor for Piano and Orchestra 

(theo Accelerated Learning, tác giả Colin Rose) 

Trong số trên, theo kinh nghiệm bản thân, hai tác phẩm đem lại hiệu quả tốt nhất là Canon in D Major của Pachalbel và Air on a G string của Bach. 

Theo Trương Liêm 
(Nguồn:http://www.vuontoithanhcong.com/viewtopic.php?f=7&t=556 )

Phần I: Baroque - thời kì hoàng kim của âm nhạc

Thời Baroque tiếp nối thời Phục hưng và được coi như thời đại hoàng kim của âm nhạc. Khởi đầu vào đầu thế kỷ thứ 17 và kết thúc vào năm 1759 với cái chết của G.F. Handel. Tuy vậy, một số nhà sử nhạc lại cho rằng thời Baroque kết thúc năm 1750 với cái chết của J.S. Bach. 

Bach và Handel sanh cách nhau 1 tháng, tuy nhạc mỗi người mỗi vẻ nhưng dòng nhạc của họ điển hình đến độ nếu tách họ riêng ra thì dòng nhạc Baroque thời đó xem ra không còn là nó nữa. Đây là thời của những tác phẩm đồ sộ về phẩm lẫn lượng cho violin và ngay cả cho opera (arias). Các nhạc sĩ lớn trong thời kì này: 

J.S. Bach (1685-1750) : người đức. Thuở nhỏ hát ca đoàn, học violin và viola với thân phụ. Mồ côi khi lên 10, về sống chung và học nhạc với chú ruột Johann Christoph. Người vợ đầu là một cô em họ. Vợ mất, kết hôn với Anna Magdalena, A.M là nguồn cảm hứng sáng tác của Bach. Ông có tổng cộng 20 người con, không một ai có khả năng nối nghiệp bố. Bach mù vào năm 1749, ông xui xẻo không mấy được biết tiếng, sống và chết đều im lìm, tài hoa bạc mệnh. Ác liệt là trong giờ phút sau cùng của cuộc đời lúc nằm chờ chết Bach đã vẫn còn đọc nhạc cho con rể ghi chép ! 

George Frideric Handel (1685-1759) : người anh gốc đức. Năm 12 tuổi khi còn ở Đức, đã được chọn chơi organ cho Vương cung thánh đường. Sau này học luật và sang Anh. Nhờ viết được 1 vở opera cho nữ hoàng Ann trong vỏn vẹn có 14 ngày, ông được nữ hoàng quí trọng và đặc cách phát lương trọn đời. Sau này còn được vua George I làm màn tăng lương. Trước tác của Handel rất đồ sộ : 46 vở operas, 32 oratorios và rất nhiều tác phẩm khác viết cho dàn nhạc . Sống độc thân, cuối đời ông cũng bị mù, chết và được đặc ân chôn trong Tu viện Wesminster (là nơi chỉ dành riêng cho hoàng gia Anh quốc) 

Thời Baroque nhạc đã trở nên chuyên nghiệp hơn so với thời kì Phục Hưng trước đó . Các nhà soạn nhạc thời Baroque thừa hưởng di sản tài tử của các ‘nghệ nhân’ thời Renaissance, công nghiệp hóa âm nhạc một cách tinh xảo để nhạc biến thành nghệ thuật thứ thiệt và hàng đầu. 

Barocco trong tiếng Portuguese là 1 viên ngọc trai đã được công phu mài dũa. Baroque tiếng pháp dùng để chỉ một kiểu kiến trúc và trang trí theo mode âu châu khi ấy, nhất là tại Ý vào đầu thế kỷ 18-19. Các nhà sử nhạc đã sử dụng chữ Baroque cho âm nhạc cùng thời. 

Soạn nhạc gia thời Baroque rất đông. Cũng như Bach và Handel, họ phần lớn là người Đức. Tuy vậy có những tên tuỗi đáng kể của Ý : 

Antonio Vivaldi (1675-1741) : với 4 bản concertos lẫy lừng the Four seasons và khoảng 500 tác phẩm tương đương cho đủ loại nhạc cụ như bassoon, picolo, trumpet, oboe, mandolin, violin ... 

Arcangeco Corelli (1653-1713) và học trò là Francesco Germiniani (1687-1762) nổi tiếng với các tác phẩm soạn cho vĩ cầm (cả hai đều là violonists) 

Giuseppe Tartini (1692-1770) : là tay violonist nổi tiếng lẫy lừng thời ấy. Thoạt tiên ông đi tu, rồi xuất và theo học luật, sau đó thì gia nhập quân đội, ông học nhạc thời gian này rồi nghiêng hẳn về vĩ cầm và giảng dạy. Tuy bị Hồng y Cornaro phản đối, ông cứ ngon lành nhứt định lấy cháu gái của ngài Hồng y (cà chớn). Cornaro giận dữ ký trát tống giam ông, gia đình Tartini xấu hổ về việc này nên cúp trợ cấp tiền bạc. Bí quá Tartini buộc phải vào nương náu trong dòng tu khổ hạnh St François d’Assi. Tại tu viện này Tartini đã thiện nghệ và điêu luyện hoá tiếng đàn của mình - cái ‘bow’ của đàn violin cũng được ông hoàn chỉnh trong thời gian này. Năm 1715 lúc được Cornaro ân xá ra khỏi tu viện thì tên tuổi ông đã vô cùng lừng lẫy. 

Thời gian này hai nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh cho clavier (nhạc cụ tiền thân của piano) là François Couperin –Pháp (1668-1733) và Dominico Scarlatti – Ý (1685-1757). Dominico Scarlatti viết tổng cộng 150 oratorios, khoảng 600 cantatas, nhạc thính phòng (chamber music) vv .... Cha của Dominico là Alessandro Scarlatti (1660-1725) đã viết hơn một trăm tác phẩm cho opera là người đã có công rất lớn trong việc phát triển ngành nghệ thuật này. 

Vài tên tuổi đáng nhớ khác : Francesco Durante, Baldassare Galuppi, Leonardo Leo và Giovanni Battista Pergolesi. Tất cả đều là người Ý. Một số nhạc của Pegolesi đã được Igor Stravinsky phóng tác và xử dụng sau này. 

Jean Philippe Rameau (1683-1764) một nhà soạn nhạc nổi tiếng khác của thời Baroque, người Pháp. Nhạc ông viết rất sống động và phong phú. Cái đáng nói chính ông là người tiền phong trong việc đưa ảnh hưởng Baroque vào âm nhạc Pháp lúc bấy giờ. Thoạt tiên Rameau học nhạc với các nhạc sĩ Ý, nhưng rồi vì không thích nên ông trở lại Pháp dạy nhạc và chơi organ trong nhà thờ d’Avignon và bằng cách ấy sắc thái Baroque đã theo ông vào Pháp. 

Cũng thế, ảnh hưởng Baroque đã theo Heinrich Schutz – Đức (1585-1672) và Dietrich Buxtehude – Thụy Điển (1637-1707) mà lan khắp Âu- châu. Handel năm 1706 lúc 21 tuổi đã qua Ý học nhạc trong 3 năm, nên rồi mặc dù nhạc Handel có phong thái riêng, nhưng mọi người không thể phủ nhận rằng trong nhạc Handel hơi hướm Ý ít nhiều có phảng phất. 

Nhạc Baroque sống động và có pulse. Bây giờ ngườ ta chế ra nhịp và gọi nó là beat rồi cứ tưởng là đang sáng tạo, thực ra nó chính là pulse trước kia. Nhạc của J.S. Bach viết cũng đầy beat ra đó, bạn nghe thử khắc biết. Chính cái sáng tạo trong nhạc của Bach đã làm nhạc của ông trở thành bất tử. Lúc viết nhạc Bach chỉ viết cho những nhạc cụ thời ấy, nhưng sau này cho dù nó được trình diễn bằng bất cứ nhạc cụ nào piano, ghi-ta điện, hay ngay cả bằng các dụng cụ điện tử thì nó vẫn thích hợp như thường. 

(Nguồn:http://mspil.net.vn/gvst/forums/t/1079.aspx)

Phần 3: Hiệu quả từ nhạc Baroque

Âm nhạc là yếu tố quan trọng đối với môi trường học tập giúp người học có khả năng học tập siêu tốc: nó phù hợp và tác động đến các động đến các điều kiện về sinh lý của con người. Trong suốt một ngày làm việc trí óc mệt mỏi, mạch và huyết áp của ta có chiều hướng tăng lên. Các sóng não sẽ tăng tốc độ, các cơ rã rời. Sau khi nghỉ ngơi thư giãn, mạch và huyết áp giảm xuống, các cơ linh họat hơn. Trong điều kiện bình thường, ta khó có thể tập trung khi đang ở tư thế hoàn toàn thư giãn, và cũng khó có thể thư giãn khi đang tập trung cao độ.

Tiến sĩ Georgi Lozanov, tác giả của những phương pháp học tập tăng cường được vận dụng của SuperCamp, đã tìm ra một cách thức gắn lao động trí óc tích cực với tâm sinh lý thoải mái để học tập đạt được hiệu quả cao hơn. Sau nhiều thử nghiệm với các học sinh, ông đã nhận thấy rằng âm nhạc là yếu tố quan trọng, “Thư giãn để nghe một bản nhạc giúp trí óc lanh lợi và khả năng tập trung cao”. 

Loại nhạc mà Lozanov nhận thấy là có hiệu quả nhất là nhạc Baroque như nhạc của Bach, Handel, Pachelbel và Vivaldi. Các nhà soạn nhạc này đã sử dụng những nhịp điệu đặc biệt, trùng khớp nhịp họat động của bộ não. Nhạc Baroque có 60 nhịp/ phút, trùng với nhịp đập trung bình của tim chúng ta. Nhiều nhạc sĩ đương đại vô cùng ngạc nhiên không hiểu làm sao mà những nhạc sĩ của 300 năm về trước đã có khả năng soạn những bản nhạc với độ chính xác về toán học cao đến như vậy.

Có thể bạn cũng đã biết, ảnh hưởng của nhạc Baroque không chỉ dừng lại ở con người, mà thực nghiệm cho thấy, cây cối cũng có cành lá xum xuê, bộ rễ lan rộng khi nghe nhạc Baroque, thậm chí chúng còn nghiêng hẳn về phía nhạc như hướng về phía mặt trời để đón ánh nắng. Tương tự, khi đánh một bản nhạc rock chói tai, những cây này sẽ quắt lại và chết. Người ta cũng cho rằng, âm nhạc đánh thức được khả năng sáng tạo thuộc về trực giác của não trái. Do vậy, những dữ liệu được đưa vào bộ não hoà nhập vào cả quá trình. Não phải của bạn có xu hướng xao lãng trong suốt các cuộc họp, bài giảng, thường xuyên mơ tưởng và nhìn ra xa khi cần phải tập trung. Chơi nhạc là một phương pháp hiệu quả để chiếm lĩnh được não phải khi cần tập trung vào các họat động của não trái.

*Một số tác động của nhạc Mozart đối với con người
Tác động đến trí thông minh của con người: 
Nghiên cứu về tác động của nhạc Mozart đối với trí thông minh chính là nghiên cứu khoa học đầu tiên về tác dụng của nhạc Mozart đối với con người. 
Sau một cuộc kiểm tra IQ được tiến hành tại Mỹ, các nhà khoa học nước này đã cho biết: nhóm học sinh được thư giãn bằng bản sô nát K488 của Mozart có kết quả trắc nghiệm IQ trung bình cao hơn nhóm khác từ 9 - 10 điểm. 
Quét não bằng phương pháp cộng hưởng từ trường fMRI (functional magnetic resonance imaging) cho thấy: Tốc độ hoạt động tại nhiều khu vực trong não và nhiều hoạt động khác của trẻ được nghe nhạc Mozart trở nên nhanh nhạy hơn, năng động hơn bình thường.

Tăng cường chức năng thị giác:
Đây là điều rất đáng ngạc nhiên, song quả thực là nhạc Mozart cũng góp phần cải thiện thị lực của con người. 
Kết quả một cuộc thử nghiệm mới của các nhà khoa học về tác động của bản sô nát K448 đối với 60 bệnh nhân tại trường đại học y dược Sao Paolo đã hé mở những khả năng về việc vùng não kiểm soát chức năng thị giác của con người được tăng cường tốc độ phân tích, và xử lý hình ảnh với độ chính xác cao. 

Những người tham gia cuộc thử nghiệm đã được “thưởng thức” những bản sô nát soạn cho 2 piano của Mozart trong một phòng kín trong vòng 10 phút. Sau đó, họ bắt đầu các cuộc kiểm tra kết quả sự phối hợp chức năng của thị lực và não bộ. Quá trình xử lý thông tin diễn ra rất nhanh và chính xác ở vùng não chức năng đã một lần nữa khẳng định tác dụng kỳ diệu của âm nhạc Mozart. 

Giúp ổn định nhịp tim, giảm stress và phục hồi thần kinh:
Nghe nhạc Mozart có thể khiến cho nhịp tim con người trở nên ổn định hơn. 
Theo dõi khoảng 23 trường hợp thanh niên tình nguyện tham gia nghiên cứu, các bác sĩ thuộc bệnh viện Oberwalliser – Thuỵ Điển đã khẳng định: việc nghe nhạc rất ích lợi đối với bệnh tim. 
Nó giúp cho bệnh nhân bị mắc bệnh tim giữ được trạng thái thư giãn, sảng khoái và giúp họ nhanh chóng hồi phục hơn bình thường. Trong nghiên cứu này, ngoài nhạc Mozart, các bác sĩ còn phát hiện thêm các bản nhạc của nhà soạn nhạc danh tiếng Bach cũng có những tác động ổn định nhịp tim tương tự. 

Trẻ sơ sinh được nghe nhạc Mozart cũng giúp trẻ giảm được đáng kể nguy cơ mắc các vấn đề về thần kinh sau khi sinh. Trong quá trình nghe nhạc, một thiết bị camera đặt trong phòng ngủ đã ghi lại toàn bộ những hoạt động và biểu hiện của những đứa trẻ sơ sinh và đã công nhận âm nhạc Mozart đã có những ảnh hưởng tuyệt vời đến trạng thái tinh thần của trẻ. Những đứa trẻ nghe nhạc Mozart dường như trở nên vui vẻ và hoạt bát hơn những trẻ em khác.

Một số bản nhạc Baroque tốt cho công việc học tập

Thư giãn  
Handel : concerto for harp and lute larghetto, op. 4, no.5
Concerto for harp in F Major larghetto, op. 4, no. 5
Concerto gross in C major (" Alexander's feast ")

Những bản nhạc hay:

J.S Bach suit 3 ("Air on a G string")
Vivaldi " four season" spring, largo
Albinoni Concerto for oboe in D minor, op.9
J.S Bach concerto in F Minor
Pachelbel Canon in D Major
Handel concerto for harp and lute in B-Flat Major
Viavaldi concerto in C major for piccolo

Những bản hoà nhạc nên nghe

Mozart converto no.21 in C Maork, K.467
Beethoven piano concerto no.5 in E-flat
Vivaldi Flute Concerto no.3 inD maor
Pachelbel " canon" from canon and gigue
Beethoven Symphony no. 6
Grieg Peer Gynt Suite Prelude, Act 4, morning
Mahler Symphony no.5
Schubert Octet ub F major, D.803

Những bản nhạc tượng hình:

Beethoven Symphony no. 6
Grieg Peer Gynt Suite Prelude, Act 4, morning
Mahler Symphony no.5
Schubert Octet ub F major, D.803

Những bản nhạc mang tính kích hoạt trí não:

Betthoven : Concerto for violin and ochestra in D Major, op.61
Tchaikovsky : concerrto no.1 in B-Flat Minor for piano and Ochestra
Mozart : concerto for violin and ochestra ; Concerto no.7 in D Major
Haydn: Symphony no.67 in F Major ; Symphony no.69 in B major
Beethoven Concerto n.5 in E-flat Major for piano and ochestra, op.73 ("emperor")

Beethoven Concerto for piano and ochestra no.5 in B-Flat Major
Haydn Symphony in C Major no. 121 (" L' horloge")
Mozart Concerto for violin and ochestra in A Major no.5; symphony in A Major no.29; symphony in G Minor no.40
Brahms Concerto for violin and ochestra in D Major, op.77

Những bản nhạc giúp ôn bài:

Corelli Grrosi, op.6, no.2,8,5,9
Handel " Water music"
J.S Bach Fantasy in G Major, fantasy in C Major, and Trio in D Minor; Canoic Variations and Toccata
Corelli Corteo Grrosi, op.4, no.10,11,12
Vivaldi Five concertos for plute and chamber orchestra
Handel Concerto for organ and ochestra in B-Flat Major, op.7, no.6
J.S Bach Prelude in G'Major

(Nguồn: classicalvietnam.info)

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Nhạc cổ điển hay nhất mọi thời đại

http://nhacso.net/nghe-playlist/nhung-ban-nhac-co-dien-hay-nhat-moi-thoi-dai.XVhZUEFZ.html